Nâng hiệu quả nguồn lực chương trình mục tiêu quốc gia

Thời báo Tài chính trên Theo dõi TBTC trên Google News
(TBTCO) - Sau khi Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, Bộ Tài chính đang trình dự thảo Nghị định quy định cụ thể nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình. Dự thảo tập trung vào quản lý nguồn lực, hệ thống chỉ tiêu và đánh giá kết quả thực hiện.

Không để nguồn lực bị phân tán

Theo dự thảo, nguồn lực ngân sách nhà nước dành cho Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 (Chương trình) được quản lý theo hướng tập trung vào các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định. Dự thảo quy định rõ các khoản chi thường xuyên từ ngân sách trung ương cho Chương trình, đồng thời không bố trí kinh phí cho những nhiệm vụ quản lý nhà nước thường xuyên hoặc nhiệm vụ đã được ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định.

Một số khoản chi trực tiếp phục vụ duy trì, vận hành các công trình của Chương trình tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng khó khăn; bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, lịch sử và các nhiệm vụ đặc thù vẫn được tính trong phạm vi chi của Chương trình.

Nâng hiệu quả nguồn lực chương trình mục tiêu quốc gia
Thu hoạch sầu riêng tại Đắk Lắk. Ảnh: Nguyễn Nam

Bộ Tài chính đồng thời đề xuất trong định hướng xây dựng văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về quản lý, sử dụng nguồn lực Chương trình, tỷ trọng vốn đầu tư phát triển từ ngân sách trung ương phấn đấu đạt từ 75% trở lên, vốn sự nghiệp không quá 25% tổng nguồn vốn. Đối với phần chi thường xuyên từ ngân sách trung ương, Bộ Tài chính đề xuất mức cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình không quá 10% tổng kinh phí sự nghiệp của Chương trình.

Cùng với cách bố trí nguồn lực, dự thảo xây dựng cơ chế theo dõi và đánh giá dựa trên hệ thống chỉ tiêu của Chương trình. Các chỉ tiêu được chia thành 2 nhóm: nhóm có thể đo lường hàng năm và nhóm đánh giá vào giữa kỳ, cuối kỳ hoặc khi có yêu cầu đánh giá đột xuất.

Theo Bộ Tài chính, cách phân nhóm này nhằm tránh việc tất cả chỉ tiêu đều phải đánh giá với cùng một tần suất. Trong theo dõi 6 tháng, cơ quan quản lý tập trung vào tình hình phân bổ, giải ngân, mức độ thực hiện và sự hài lòng của người dân. Đánh giá hàng năm sử dụng các chỉ tiêu có thể đo lường theo năm; đánh giá giữa kỳ và cuối kỳ sử dụng đầy đủ hệ thống chỉ tiêu để xem xét mức độ hoàn thành mục tiêu của Chương trình.

Không lấy tỷ lệ giải ngân thay cho kết quả thực hiện Chương trình

Việc gắn phân bổ nguồn lực với kết quả thực hiện là một nội dung đáng chú ý trong cách tiếp cận của Chương trình mới. Theo ý kiến của các đại biểu Quốc hội, cần phân biệt rõ giữa tiến độ thực hiện với kết quả cuối cùng mà Chương trình hướng tới.

Tại phiên thảo luận của Quốc hội về việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga - Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách TP. Hải Phòng lưu ý, những địa bàn khó khăn thường cũng là nơi hạn chế về năng lực quản trị, chuẩn bị dự án và khả năng cân đối ngân sách.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, mục tiêu cuối cùng của Chương trình không nằm ở một tỷ lệ giải ngân “đẹp”, mà ở việc giải quyết những thiếu hụt thực tế của người dân. Đại biểu đề nghị, trước hết, phải bảo đảm nguồn lực theo mục tiêu, mức độ khó khăn và đối tượng ưu tiên; sau đó sử dụng kết quả thực hiện để điều chỉnh và khuyến khích những nơi thực hiện tốt.

Đề xuất cơ chế chuyển tiếp

Dự thảo Nghị định của Chính phủ về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 cũng quy định giai đoạn chuyển tiếp. Theo đó, trong năm 2027, việc phân bổ vốn ngân sách trung ương về địa phương tiếp tục thực hiện theo các chương trình trước đây theo Nghị quyết số 46/2026/QH16. Sau đó, địa phương thực hiện phân bổ, quản lý theo cơ chế của Nghị định mới.

Ý kiến này đặt ra yêu cầu đối với hệ thống đánh giá được Bộ Tài chính đề xuất: giải ngân là một dữ liệu cần theo dõi, nhưng không thể thay thế cho việc đánh giá mục tiêu của từng nhóm nhiệm vụ.

Yêu cầu này càng rõ khi Chương trình bao phủ nhiều lĩnh vực có tính chất khác nhau. Hạ tầng, số lượng công trình hay tỷ lệ giải ngân có thể tương đối dễ thống kê, trong khi những thay đổi về văn hóa, phát triển con người hoặc mức độ tiếp cận dịch vụ xã hội cần cách đo lường khác.

Đại biểu Vũ Minh Đạo (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu) cũng lưu ý, Chương trình bao trùm nhiều lĩnh vực, trong đó có những lĩnh vực khó lượng hóa như văn hóa và phát triển con người. Nếu thiếu cơ chế ràng buộc rõ ràng, những mục tiêu này có thể bị “hòa loãng” hoặc bị lấn át bởi các mục tiêu dễ đo đếm hơn. Đại biểu đề nghị xác định rõ các mục tiêu, chỉ tiêu cốt lõi mang tính bắt buộc và bảo đảm nguồn lực tương ứng.

Theo Bộ Tài chính, đây cũng là lý do dự thảo dành một nhóm quy định riêng cho hệ thống chỉ tiêu, theo dõi và đánh giá. Các bộ, ngành không chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, mà còn phải xác định các chỉ tiêu thuộc lĩnh vực mình phụ trách, cung cấp dữ liệu để hình thành hệ thống đánh giá chung.

Theo dự thảo, việc đánh giá Chương trình được thực hiện theo nhiều thời điểm và cấp độ. Theo dõi định kỳ phục vụ quản lý, điều hành; đánh giá giữa kỳ và cuối kỳ nhằm xem xét đầy đủ hơn mức độ hoàn thành mục tiêu. Khi cần thiết, cơ quan có thẩm quyền có thể tổ chức đánh giá đột xuất.

Cách làm này tách hai vấn đề thường dễ bị đồng nhất: Chương trình thực hiện đến đâu và Chương trình tạo ra kết quả gì. Một dự án hoàn thành đúng tiến độ là kết quả đầu ra của một nhiệm vụ; nhưng mức độ thay đổi đời sống, khả năng tiếp cận dịch vụ hoặc cải thiện điều kiện sản xuất của người dân mới là những nội dung cần được theo dõi ở tầng kết quả.

Dữ liệu làm cơ sở điều chỉnh nguồn lực

Để việc đánh giá không dừng ở báo cáo định kỳ, dự thảo đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung cho Chương trình. Dữ liệu được cập nhật từ các cơ quan thực hiện và sử dụng cho phân bổ, theo dõi, đánh giá và điều hành.

Theo dự thảo, các bộ, cơ quan quản lý lĩnh vực chịu trách nhiệm xác định các chỉ tiêu thành phần thuộc phạm vi quản lý và gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp, xây dựng công cụ đánh giá trên cơ sở dữ liệu của Chương trình trước ngày 31/12/2026.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao tổng hợp hệ thống chỉ tiêu và xây dựng công cụ đánh giá. Bộ Tài chính thực hiện nhiệm vụ tổng hợp, cân đối, phân bổ nguồn ngân sách trung ương và quản lý nguồn lực theo quy định. Các bộ, ngành quản lý lĩnh vực chịu trách nhiệm về các chỉ tiêu, dữ liệu thuộc phạm vi được giao.

Việc phân định này tạo thành một chuỗi từ nguồn lực đến kết quả: nguồn vốn được bố trí theo mục tiêu, nhiệm vụ được triển khai tại địa phương, dữ liệu được cập nhật trong quá trình thực hiện và kết quả được đo bằng hệ thống chỉ tiêu. Những dữ liệu đó sẽ cung cấp cơ sở cho việc điều hành, đánh giá và điều chỉnh trong quá trình thực hiện Chương trình.

Đối với hệ thống chỉ tiêu về công tác dân tộc, Bộ Tài chính đề xuất theo hướng các bộ, ngành xác nhận và cập nhật số liệu thuộc lĩnh vực phụ trách. Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp kết quả chung; Bộ Dân tộc và Tôn giáo sử dụng các số liệu đã được xác nhận để phục vụ đánh giá chính sách dân tộc.

Cách phân công này nhằm hạn chế việc một số liệu phải qua thêm một tầng trung gian trước khi được sử dụng, đồng thời vẫn bảo đảm cơ quan phụ trách chính sách dân tộc có nguồn dữ liệu thống nhất để đánh giá.

Dự thảo cũng đặt yêu cầu các bộ, ngành sớm hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn, định mức và hướng dẫn chuyên ngành để địa phương có căn cứ triển khai. Đây là điều kiện quan trọng khi cơ chế mới dự kiến được áp dụng từ năm 2027.

Vân Hà

Đọc thêm

Hà Nội thí điểm chấm điểm giải ngân đầu tư công, gắn với đánh giá cán bộ

Hà Nội thí điểm chấm điểm giải ngân đầu tư công, gắn với đánh giá cán bộ

(TBTCO) - Hà Nội thí điểm chấm điểm, xếp loại kết quả giải ngân vốn đầu tư công trong quý IV/2026; kết quả cả năm là một trong các căn cứ đánh giá, xếp loại chất lượng tập thể, cá nhân.
Hiện đại hệ thống kho dự trữ quốc gia, đáp ứng năng lực dự trữ chiến lược

Hiện đại hệ thống kho dự trữ quốc gia, đáp ứng năng lực dự trữ chiến lược

(TBTCO) - Trước yêu cầu xây dựng nguồn lực dự trữ chiến lược, việc hoàn thiện hệ thống kho dự trữ quốc gia đồng bộ, hiện đại là nhiệm vụ cấp thiết. Cùng với tăng nguồn lực hàng dự trữ, Cục Dự trữ Nhà nước tiếp tục rà soát, đánh giá toàn bộ hiện trạng, xây dựng các phương án phát triển hệ thống kho dự trữ quốc gia hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu đảm bảo an ninh dự trữ quốc gia trong tình hình mới.
4 thông tư liên quan đến DATC tiếp tục có hiệu lực

4 thông tư liên quan đến DATC tiếp tục có hiệu lực

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 2965/QĐ-BTC, công bố 4 thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính liên quan đến Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Mua bán nợ Việt Nam (DATC) tiếp tục có hiệu lực.
Đầu tư công: Đòn bẩy cho cú “bứt tốc” chặng nước rút

Đầu tư công: Đòn bẩy cho cú “bứt tốc” chặng nước rút

(TBTCO) - Đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công gắn với khơi thông nguồn vốn tư nhân sẽ tạo lực đẩy cho tăng trưởng kinh tế trong chặng nước rút năm 2026. Theo TS. Nguyễn Văn Hiến - chuyên gia kinh tế, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Marketing (Bộ Tài chính), cần tháo gỡ điểm nghẽn trong triển khai dự án, đồng thời phối hợp hiệu quả chính sách tài khóa và tiền tệ để phát huy tối đa các nguồn lực.
Xem thêm